Thông tin chung

  English

  Đề tài NC khoa học
  Bài báo, báo cáo khoa học
  Hướng dẫn Sau đại học
  Sách và giáo trình
  Các học phần và môn giảng dạy
  Giải thưởng khoa học, Phát minh, sáng chế
  Khen thưởng
  Thông tin khác

  Tài liệu tham khảo

  Hiệu chỉnh

 
Số người truy cập: 75,104,053

 Nghiên cứu khả năng ứng dụng than bùn Đà Nẵng và axit humic chiết tách từ than bùn Đà nẵng làm vật liệu hấp phụ ion kim loại Cu2+, Pb2+, Zn2+ trong dung dịch nước
coupons for prescriptions mba-institutes.com coupons for cialis 2016
doctors who prescribe naltrexone site naloxone challenge
Chủ nhiệm:  Trần Mạnh Lục; Thành viên:  Lê Thị Cẩm Giang; Lê Thị Hồng Dương
marriage affairs all wife cheat i want an affair
Số: Đ2011-03-03 ; Năm hoàn thành: 2011; Đề tài cấp ĐHĐN; Lĩnh vực: Tự nhiên

Mục tiêu nghiên cứu  

Từ than bùn vùng Liên Chiểu – Đà Nẵng, tạo ra vật liệu có khả năng hấp phụ các ion kim loại nặng Cu2+, Zn2+, Pb2+ làm cơ sở cho việc nghiên cứu ứng dụng nguồn than bùn sẵn có để xử lý ô nhiễm kim loại nặng đối với môi trường nước.

Kết quả chính đã đạt được

            1. Đã xác định đặc tính của than bùn Liên Chiểu – Đà Nẵng:

+ Độ ẩm: 5.193% (ứng với hệ số khô kiệt là 0,948)

+ Hàm lượng hữu cơ: 61,55%.

+ Hàm lượng tro: 25.42%.

+ Diện tích bề mặt: 0.9551 m²/g ± 0.0376 m²/g.

+ Cấu trúc tế vi được đánh giá qua phổ hồng ngoại (IR), ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM).

2. Đã nghiên cứu điều kiện tối ưu khi tiến hành hoạt hóa than bùn bằng dung dịch axit HCl cho kết quả: 

+ Nồng độ axit HCl:  4M,

+ Thời gian hoạt hóa: 1 giờ 

+ Tỉ lệ than bùn (g)/dung dịch HCl (ml): 1/3

Mẫu than bùn sau hoạt hóa có độ ẩm: 19,313%, hàm lượng hữu cơ: 66,02%, hàm lượng tro: 16,56%, diện tích bề mặt: 0.9331 m²/g ± 0.0376 m²/g. Sự biến đổi cấu trúc của mẫu than bùn sau hoạt hoá được đánh giá qua phổ hồng ngoại (IR), ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM) và phổ phân tích nhiệt vi sai (TG/DTA).

3. Đã nghiên cứu khả năng hấp phụ ion Cu2+, Zn2+, Pb2+ của than bùn hoạt hóa theo phương pháp bể cho kết quả:

+ Thời gian đạt cân bằng hấp phụ: 90 phút đối với Cu2+, 70 phút đối với Pb2+, 60 phút đối với Zn2+; pH thích hợp = 5.

+ Tải trọng hấp phụ cực đại đối với Pb2+ > Cu2+ > Zn2+ và giá trị cụ thể lượt là:  qmax (Pb2+) = 12,84 (mg/g); qmax (Cu2+) = 7,12 (mg/g). qmax (Zn2+) = 5,46 (mg/g)

+ Giá trị ái lực hấp phụ của Cu2+ = 0,066; của Pb2+ = 0,075; của Zn2+ = 0,048; Do ái lực với ion Pb2+ > Cu2+ > Zn2+ nên khả năng hấp phụ ion kim loại giảm dần theo thứ tự : Pb2+ > Cu2+ > Zn2+.

+ Ở điều kiện: than bùn hoạt hóa = 0,5 gam, thể tích dung dịch M2+nồng độ đầu 25 mg/l = 50ml, pH = 5 thì hiệu suất hấp phụ là 78,45% với Cu2+, 85,62% đối với Pb2+ và 60,33% đối với Zn2+.

4. Đã tiến hành tách và tinh chế axit humic từ than bùn. Mẫu axit humic sau tinh chế 2 lần có các đặc tính sau: độ ẩm: 5,85%, hàm lượng tro: 2,43%.  Cấu trúc và độ bền nhiệt của mẫu axit humic được đánh giá qua phổ hồng ngoại (IR), ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM) và phổ phân tích nhiệt vi sai (TG/DTA).

5. Đã nghiên cứu khả năng hấp phụ ion Cu2+, Zn2+, Pb2+ của axit humic theo phương pháp bể cho kết quả:

+ Thời gian đạt cân bằng hấp phụ: 90 phút đối với Cu2+, 60 phút đối với Pb2+ và Zn2+;  pH thích hợp = 5.

+ Tải trọng hấp phụ cực đại:  qmax (Pb2+) = 29.41(mg/g); qmax (Cu2+) = 19.88 (mg/g); qmax (Zn2+) = 19.19 (mg/g)

+ Giá trị ái lực hấp phụ bPb2+ = 0,067, bCu2+ = 0,032; bZn2+ = 0,042. Do ái lực với ion Pb2+ > Zn2+ > Cu2+ nên khả năng hấp phụ ion kim loại giảm dần theo thứ tự : Pb2+ > Zn2+ > Cu2+.

+ Ở điều kiện: axit humic = 0,3 gam, thể tích dung dịch M2+ (có nồng độ đầu 50 mg/l) = 50ml, pH = 5 thì hiệu suất hấp phụ là 63.70% với Cu2+; 85.10% đối với Pb2+ và 69.36% đối với Zn2+.

6. Đã nghiên cứu khả năng hấp phụ ion Cu2+, Zn2+, Pb2+ của axit humic theo phương pháp cột cho kết quả:

+ Tốc độ chảy:1 (ml/phút);  pH tối ưu = 4.

+ Hiệu suất hấp phụ là 83.15% đối với Cu2+; 89.41% đối với Pb2+ và 71,35% đối với Zn2+.

7. Đã tiến hành giải hấp phụ ở các giả trị pH khác nhau thấy pH = 1 là thích hợp cho quá trình giải hấp phụ.

Thực hiện chu trình hấp phụ - giải hấp 5 lần cho thấy tải trọng hấp phụ giảm không nhiều (18,42% đối với Cu2+; 18,38% đối với Zn2+, 19,84% đối với Pb2+) so với lần hấp phụ đầu. Như vậy, axit humic là loại vật liệu có thể được sử dụng nhiều lần để hấp phụ ion kim loại trong dung dịch.


abortion stories gone wrong information about abortions teenage abortion facts
© Đại học Đà Nẵng
 
 
Địa chỉ: 41 Lê Duẩn Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: (84) 0236 3822 041 ; Email: dhdn@ac.udn.vn